Những
thách
thức
cho
ĐBSCL
Thứ
năm
-
24/12/2020
11:02
ĐBSCL
đang
trải
qua
một
loạt
những
thách
thức
lớn
nhất
trong
lịch
sử
hình
thành
và
phát
triển
của
mình.
Nhóm
thách
thức
thứ
nhất
liên
quan
tới
đất,
nước
và
môi
trường.
Thách
thức
thường
được
nhắc
tới
đầu
tiên
là
nước
biển
dâng
và
nhập
mặn
do
biến
đổi
khí
hậu.
Hiện
nay,
mỗi
năm
nước
biển
dâng
trung
bình
khoảng
3
–
4
mm.
Tuy
không
phủ
nhận
tầm
quan
trọng
của
hiện
tượng
này,
song
cần
nhớ
là
mức
sụt
lún
do
khai
thác
nước
ngầm
quá
mức
và
do
các
công
trình
xây
dựng
và
hạ
tầng
gây
ra
thực
tế
cao
hơn
mức
này
nhiều
lần.
Hơn
nữa,
việc
nhập
mặn
tuy
bất
lợi
cho
lúa
nhưng
lại
có
lợi
cho
tôm,
cá
và
các
hoạt
động
nuôi
trồng
thủy
sản
khác
vốn
đem
lại
lợi
ích
kinh
tế
cao
hơn
nhiều
lần,
đồng
thời
ít
gây
biến
đổi
và
tác
hại
môi
trường
hơn
nhiều
so
với
thâm
canh
lúa
ba
vụ.
Thách
thức
thứ
hai,
cũng
được
nói
tới
rất
nhiều
trong
những
năm
gần
đây,
là
sự
suy
giảm
về
cả
khối
lượng
và
chất
lượng
nước
do
mạng
lưới
chằng
chịt
hơn
140
đập
thủy
điện
lớn
ở
thượng
nguồn
gây
ra.
Thiếu
nước
ở
ĐBSCL
đã
ngày
càng
trở
nên
nghiêm
trọng
trong
mùa
khô.
Mặc
dù
trong
mùa
mưa,
các
đập
của
Trung
Quốc
chiếm
chưa
tới
10%
lượng
nước
trong
toàn
bộ
hệ
thống
nhưng
vào
mùa
khô,
tỷ
lệ
này
có
thể
lên
tới
40%
–
50%,
khiến
cho
thời
điểm
tiếp
nhận
cũng
như
lượng
nước
ở
hạ
nguồn
bị
phụ
thuộc
rất
lớn
vào
việc
vận
hành
các
đập
của
Trung
Quốc.
Bên
cạnh
đó,
một
lượng
lớn
phù
sa
và
cát
bị
kìm
giữ
bởi
các
đập
thượng
nguồn
–
ước
lượng
lên
tới
50%
–
cũng
làm
ĐBSCL
mất
đi
nguồn
nguyên
liệu
bồi
đắp
quý
giá.
Điều
này
cùng
với
nạn
khai
thác
cát
bừa
bãi
và
vô
độ
trong
nhiều
năm
khiến
tình
trạng
mất
đất
và
sạt
lở
ven
biển
trở
nên
hết
sức
trầm
trọng.
Thách
thức
nguy
hiểm
hơn
–
đang
hàng
ngày
hàng
giờ
bào
mòn
sức
sống
của
ĐBSCL
–
thực
ra
đến
từ
những
chính
sách
hay
tập
quán
canh
tác
bất
cập
gây
nên.
Về
chính
sách,
định
hướng
thâm
canh
nông
nghiệp
–
đặc
biệt
là
lúa
ba
vụ
–
vừa
không
hiệu
quả
và
thiếu
bền
vững,
vừa
gây
ra
hàng
loạt
tác
hại
môi
trường.
Về
tập
quán
canh
tác,
nguồn
nước
mặt
trở
nên
ô
nhiễm
nặng
nề
do
việc
sử
dụng
phân
bón,
thuốc
trừ
sâu
quá
mức
để
duy
trì
lúa
ba
vụ
và
tăng
sản
lượng
nông
nghiệp.
Thêm
vào
đó,
ô
nhiễm
từ
hoạt
động
nuôi
trồng
và
chế
biến
thủy
sản
làm
tình
trạng
ô
nhiễm
càng
trở
nên
nghiêm
trọng.
Không
dừng
lại
ở
đây,
một
mặt
do
nước
mặt
quá
ô
nhiễm,
mặt
khác
vì
tình
trạng
quản
lý
yếu
kém
nước
ngầm
nên
nguồn
nước
ngầm
“cha
chung
không
ai
khóc”
bị
khai
thác
quá
mức
trong
thời
gian
dài.
Điều
này,
cùng
với
áp
lực
của
các
công
trình
xây
dựng
và
hạ
tầng,
khiến
nền
đất
bị
sụt
lún
nghiêm
trọng,
có
nơi
lên
tới
2
–
3
cm
mỗi
năm
–
cao
hơn
nhiều
lần
so
với
mực
nước
biển
dâng.
Nếu
tình
trạng
này
tiếp
diễn,
chỉ
trong
30
–
50
năm
nữa,
phần
lớn
hạ
nguồn
ĐBSCL
sẽ
tụt
xuống
dưới
mực
nước
biển.
Không
chỉ
chịu
những
thách
thức
nghiêm
trọng
về
đất,
nước
và
môi
trường,
ĐBSCL
còn
đang
trải
qua
những
biến
động
quan
trọng
về
nhân
khẩu
học,
số
lượng
và
chất
lượng
lao
động.
Đầu
tiên,
trong
giai
đoạn
2009
–
2019,
tỷ
lệ
tăng
dân
số
bình
quân
của
vùng
ĐBSCL
chỉ
là
0,05%/năm,
thua
xa
mặt
bằng
chung
của
cả
nước
là
1,14%/năm.
Nguyên
nhân
chính
của
tình
trạng
này
là
do
ĐBSCL
có
tỷ
suất
di
cư
thuần
cao
nhất
cả
nước,
lên
tới
-39,9‰,
chủ
yếu
là
do
tình
trạng
thiếu
cơ
hội
việc
làm
và
cơ
hội
kinh
tế
tại
địa
phương.
Thực
tế
là
kể
từ
năm
2017
cho
đến
nay,
lần
đầu
tiên
trong
lịch
sử
hình
thành
và
phát
triển
của
mình,
ĐBSCL
ghi
nhận
sự
suy
giảm
tuyệt
đối
về
dân
số.
Hệ
quả
tất
yếu
của
tình
trạng
này
là
hiện
tượng
thiếu
lao
động
trở
nên
ngày
càng
phổ
biến,
đồng
thời
mức
độ
già
hóa
dân
số
trở
nên
ngày
một
trầm
trọng.
Không
chỉ
thiếu
lao
động,
chất
lượng
nguồn
nhân
lực
của
ĐBSCL
từ
lâu
là
một
vấn
nạn
nhưng
vẫn
chưa
được
khắc
phục.
Về
giáo
dục
phổ
thông,
tỷ
lệ
dân
số
từ
15
tuổi
trở
lên
biết
chữ
ở
ĐBSCL
là
94,2%,
thấp
hơn
bình
quân
cả
nước
(95,8%)
và
chỉ
cao
hơn
vùng
Tây
Nguyên
(91,3%).
Tỷ
lệ
dân
số
từ
15
tuổi
trở
lên
đã
tốt
nghiệp
THPT
ở
ĐBSCL
chỉ
là
11,3%,
thấp
nhất
và
thua
xa
mức
bình
quân
của
cả
nước
là
17,3%.
Tương
tự
như
vậy
đối
với
chất
lượng
đào
tạo
lao
động:
tỷ
lệ
dân
số
từ
15
tuổi
trở
lên
có
trình
độ
chuyên
môn
kỹ
thuật
ở
ĐBSCL
chỉ
là
9,7%
–
thấp
nhất
và
thua
xa
mức
bình
quân
của
cả
nước
là
19,2%;
tỷ
lệ
lao
động
đã
qua
đào
tạo
ở
ĐBSCL
là
13,6%
–
một
lần
nữa
thấp
nhất
và
kém
xa
mức
bình
quân
của
cả
nước
là
23,1%.
Nhóm
thách
thức
thứ
ba
là
về
kinh
tế.
Trong
khi
các
động
lực
tăng
trưởng
kinh
tế
truyền
thống
chính
của
vùng
ĐBSCL
như
lúa
và
thủy
hải
sản
đang
có
dấu
hiệu
đạt
ngưỡng
tới
hạn
thì
các
động
lực
tăng
trưởng
mới
vẫn
còn
yếu
ớt,
thậm
chí
chưa
thành
hình.
Đây
là
lý
do
chính
khiến
các
tỉnh
ở
ĐBSCL
trăn
trở
với
bài
toán
chuyển
đổi
cơ
cấu
và
đổi
mới
mô
hình
tăng
trưởng
nhưng
chưa
tìm
được
câu
trả
lời
thỏa
đáng.
Thách
thức
này
càng
trở
nên
bức
xúc
khi
ĐBSCL
tụt
hậu
ngày
càng
xa
so
với
vùng
Đông
Nam
Bộ,
thậm
chí
cảm
nhận
mình
bị
“bỏ
rơi”
trong
sự
phát
triển
chung
của
cả
nước.
Nhóm
thách
thức
thứ
tư
là
về
khoa
học
–
công
nghệ.
Đây
là
những
“cú
sốc”
không
chỉ
đối
với
ĐBSCL
mà
còn
cho
cả
Việt
Nam,
và
thậm
chí
có
tính
toàn
cầu.
Những
công
nghệ
mới
như
internet
vạn
vật
và
dữ
liệu
lớn,
tối
ưu
hóa
công
nghiệp
chế
tạo
–
chế
biến
nhờ
trí
thông
minh
nhân
tạo,
hiệu
chỉnh
gen
không
chỉ
đối
với
thực
vật
mà
cả
con
người
v.v.
sau
một
thời
gian
dài
tiến
hóa,
đã
trở
nên
chín
muồi
và
sẽ
làm
thay
đổi
một
cách
cơ
bản
cách
chúng
ta
sống,
làm
việc,
sản
xuất
và
tương
tác
với
nhau.
Là
một
“vùng
trũng”
về
công
nghệ,
lại
đang
dựa
chủ
yếu
vào
nền
sản
xuất
nông
nghiệp
truyền
thống
và
công
nghệ
lạc
hậu,
những
cú
sốc
này
sẽ
tạo
ra
nhiều
thách
thức
to
lớn
cho
ĐBSCL.
Nếu
biết
tận
dụng,
các
công
nghệ
mới
này
sẽ
mở
ra
những
cơ
hội
hết
sức
to
lớn.
Ngược
lại,
ĐBSCL
sẽ
tụt
hậu
ngày
càng
xa
so
với
cả
nước
và
thế
giới.
Trong
nguy
có
cơ
–
không
phải
mọi
“thách
thức”
đều
bất
lợi.
Trái
lại,
chúng
buộc
các
tỉnh
ĐBSCL
phải
nhìn
nhận
lại
một
cách
thấu
đáo
về
mục
tiêu
phát
triển,
đánh
giá
lại
các
động
lực
tăng
trưởng
hiện
có,
suy
nghĩ
lại
về
thế
mạnh
và
nguồn
lực
của
mình,
để
từ
đó
tư
duy
lại
về
mô
hình
phát
triển.
ĐBSCL
cần
xây
dựng
cho
mình,
không
chỉ
là
mô
hình
tăng
trưởng
kinh
tế
mới,
mà
quan
trọng
hơn
là
một
mô
hình
phát
triển
mới.
Hơn
ba
thập
kỷ
qua,
mô
hình
kinh
tế
truyền
thống
tập
trung
vào
sản
xuất
nông
nghiệp
thay
vì
kinh
tế
nông
nghiệp,
số
lượng
thay
vì
chất
lượng,
manh
mún
hơn
là
tích
tụ
ruộng
đất,
phân
mảnh
thay
vì
liên
kết
thành
chuỗi
cung
ứng…
Mặc
dù
ĐBSCL
đã
thành
công
trong
việc
thoát
đói,
giảm
nghèo,
nhưng
vùng
đất
này
vẫn
chưa
đem
lại
được
sự
thịnh
vượng
cho
phần
lớn
người
dân
của
mình.
Bằng
chứng
là
tốc
độ
phát
triển
của
Vùng
đã
chậm
lại
một
cách
đáng
kể,
mức
sống
của
người
dân
thấp
hơn
mức
trung
bình
của
cả
nước,
và
Đồng
bằng
sông
Cửu
Long
ngày
càng
tụt
hậu
về
hầu
hết
các
khía
cạnh
phát
triển
kinh
tế
–
xã
hội.
Theo
Kỷ
yếu
Mekong
Connect
2020/
Báo
cáo
thường
niên
về
kinh
tế
ĐBSCL
của
VCCI