- Hiện trạng tổn thất sau thu hoạch lúa:
- Theo đánh giá trong nghị quyết của chánh phủ số 48/NQ-CP ban hành ngày 23 tháng 9 năm 2009 .”tổn thất về sản lượng trong và sau thu hoạch đối với lúa từ 11- 13% tập trung ở các khâu thu hoạch , phơi sấy , bảo quản và xay xát chế biến. Ngoài sự tổn thất vế sản lượng còn bị sụt giảm đáng kể về chất lượng nông sản…”
- Tại hội thảo về sau thu hoạch lúa do IRRI, ADB và Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố HCM tổ chức tại Vũng Tàu từ ngày 21-24 tháng 4 năm 2009 đánh giá.
- Tổn thất sau thu hoach lúa ở các nước Đông Nam Á chiếm từ 15-20% về khối lượng khi khối lượng được xác định nó có thể gây mất giá trị từ 10- 30% trên thị trường.
- Chương trình CARD 026/VIEO5 điều tra kiểm soát sự nứt hạt lúa trên đồng ruộng và sau thu hoạch ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.Việt Nam do Đại Học Nông Lâm Thành Phố HCM kết hợp với Đại Học Queensland Úc phối hợp thực hiện, đánh giá tổng tổn thất trung bình sau thu hoạch liên quan đến công nghệ.
Một số trường hợp tiêu biểu có thể liệt kê dưới đây:
a. Trường hợp tổn thất cao nhất 20,6% bao gồm:
- Thu hoạch trễ 3,5%
- Phương pháp thu hoạch 2,9%
- Tổn thất do đập 1,5%
- Phơi đồng 8,7%
- Xay xát bằng máy chất lượng trung bình 4%
b. Trường hợp tổn thất trung bình 12,4% đến 15,9%
- Thu hoạch trễ
- Phương pháp thu hoạch thủ công hoặc xếp dảy 2,9%
- Tổn thất do đập 1,5%
- Phơi sân 4%
- Xay xát bằng máy chất lượng trung bình 4%
- Trong các tổn thất, về giá lúa là tổn thất lớn nhất. Do nông dân không có khả năng làm khô và tồn trữ lúa ngay sau khi thu hoạch, nên thường bán lúa tươi tại ruộng ngay sau khi thu hoạch
- Vào thời điểm thu hoạch rộ , lợi dụng lúc nông dân cần bán lúa ngay tại ruộng và do lợi nhuận các công ty kinh doanh, thương lái chủ động định giá lúa thấp nên nông dân bị thiệt hại. Nhà nước có chủ trương định giá lúa ở mức nông dân có lời 30%. Phương pháp định giá này chưa thật đúng và đầy đủ, giá lúa chủ yếu lấy chi phí sản xuất một tấn lúa nhân 1,3 ra giá lúa sàn. Chi phí nhà nước tính cho một tấn lúa không bao gồm định phí của hộ nông dân, cách đánh giá kiểu này là không đầy đủ, không phản ánh trung thực chi phí sản xuất lúa.
- Để can thiệp vào giá lúa, nhà nước chỉ đạo cho các công ty lương thực do nhà nước quản lý mua lúa hàng hóa của nông dân tồn trữ. Hầu hết các công ty lương thực đều mua gạo ẩm độ > 17% rồi quy lúa. Cứ mỗi tấn gạo tương đương với 2 tấn lúa, rồi báo cáo là đã mua lúa của nông dân. Nhưng thực chất là mua gạo ẩm độ cao >17% từ các thương lái nhỏ.
- Công nghệ chế biến từ gạo ẩm độ> 17% là công nghệ chuẩn của các công ty lương thực nhà nước hiên nay.
- Quy trình này các nhà khoa học goi là quy trình ngược. Đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây ra tổn thất to lớn về giá trị của hạt gạo Việt Nam.
- Không có một loại hàng hóa nào xuất khẩu ra khỏi Việt Nam mà chất lượng và giá trị lại kém hơn hàng nội địa như là xuất khẩu gạo.
- Người nội trợ thông thường ở nông thôn cũng như đô thị không sử dụng gạo xuất khẩu cho bếp ăn của gia đình mình.
- Quy trình ngược,chế biến gạo từ lúa có độ ẩm cao, sấy gạo sau khi chế biên làm giảm chất lượng gạo về mặt dinh dưỡng làm cho gao Việt Nam không có tên nên không có thương hiệu gao.
- Mua lúa ẩm,chế biến gạo theo quy trình ngược, cạnh tranh gạo trên thị trường thế giới bằng chào bán giá thấp với số lượng lớn, là nguyên nhân chính gây tổn thất to lớn cho nông dân.
- Càng xuất khẩu gạo chất lượng thấp ,giá thấp với số lượng lớn, công ty kinh doanh càng có lời và nông dân càng nghèo
- Đây là tổn thất sau thu hoạch cơ bản hiên nay.
- Tổng sản lượng lúa của VN vào khoảng 37 triệu tấn
- Nếu tổn thất giảm 6% tương ứng với 1.720.000 tấn lúa trị giá 6.880 tỷ đồng là tổn thất vế khối lượng
- Tổn thất vế giá trị khoảng 10%,tức 3,7 triệu tấn lúa trị gía 14,800 tỷ đồng.
- Tổng tổn thất vế khối lượng ở mức 6 %và giá trị ở mức 10% lên đến 21.680 tỷ đồng /năm.
- Tổng số thiệt hại này chia điều cho 65 triệu người sống ở nông thôn lên đến 333.538 đồng năm cho mỗi đầu người.
- Ngày nay 1 đồng VN chỉ là giá trị tượng trưng, nông dân VN lại quen chịu đựng ,nên phải chịu đựng thêm cũng là lẽ thường.
2. Năng lực giải quyết tổn thất sau thu hoach2.1 Các giải pháp giải quyết tổn thất sau thu hoach lúa:- Nghị định 48/NQCP nêu ra các giải pháp tóm tắt như sau.
1. Giống:
- Nghiên cứu và chuyển giao vào sản xuất các giống lúa có năng suất ,chất lượng và ít rơi rụng trong quá trình thu hoach.
2. Canh tác:
- Cơ giới hóa và hiện đại hóa hệ thống canh tác
3. Thu hoach:
- Chủ yếu bằng máy gặt đập liên hợp
4. Làm khô, tồn trữ
- Làm khô lúa ngay sau khi thu hoach,bảo quản đúng quy cách
5. Xay xát bằng công nghệ hiện đại:
- Đồng bằng sông Cửu Long và Thành Phố Hồ Chí Minh có đủ năng lực hiện đại hóa công nghiệp xay xát lúa gạo bằng công nghệ, kỹ thuật và thiết bị của chính mình sản xuất đạt trình độ hiện đại, thích nghi và hiệu quả.
2.2 Về năng lực giải quyết tổn thất trong và sau thu hoach lúa.2.2.1 Về kỹ thuật:Xay xát và tồn trữ lúa gạo:
- Các Công Ty chế tạo thiết bị xay xát lúa gạo ở TP.Hồ Chí Minh, Long An đã cung cấp các hệ thống thiết bị xay xát lúa gạo với trình độ công nghệ tiên tiến, cho thị trường trong nước và xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.
- Thiết bị xay xát lúa gạo Việt Nam đã cạnh tranh thắng lợi ở thị trường trong nước, Đông Nam Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh. Công nghiệp chế tạo thiết bị xay xát lúa gạo Việt Nam đủ sức trang bị cho đất nước mình cái hệ thống thiết bị xay xát tiên tiến,hiện đại, thích nghi và hiệu quả cho các nhà máy xay lúa.
- Thiết bị sấy lúa công nghiệp đã xuất sang Đài Loan, Philippin, Indonesia, Campuchia, dùng trấu làm chất đốt, rất hiệu quả cho người sử dụng.
- Các kỹ thuật sấy lúa bằng máy sấy tĩnh vĩ ngang, sấy tĩnh vĩ ngang đão chiều gió đã được phổ biến rộng rãi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
- Các vấn đề kỹ thuật cơ bản của việc sấy lúa đã được giải quyết.
- Sấy và tồn trử lúa khô phụ thuộc vào suất đầu tư
- Chi phí xay xát lúa ở ĐBSCL so với các nước trên thế giới là thấp nhất khoảng từ 4%-5% trên giá lúa, chi phí cho sấy lúa vào khoảng 2% - 3% .
- Tổng chi phí sấy và xay xát lúa ở ĐBSCL vào khoảng 6% - 7% trong khi ở Thái Lan là 14%. Ở Campuchia là 18% .Nên nhà máy xay lúa ở Việt Nam tích lũy không đũ khấu hao. Do đó các nhà máy chuyên gia công xay xát và sấy lúa chậm hiện đại hóa công nghệ.
- Các công ty kinh doanh lúa gạo hưởng lợi nhuận cao hơn nên đầu tư từ khâu xát trắng, đánh bóng, sấy gạo không tập trung vào khâu đầu tư làm khô và tồn trữ lúa khô nên tổn thất sau thu hoạch lúa tiếp tục kéo dài.
Về gặt đập liên hợp:
- Trong các kỳ hội thi máy gặt đập liên hợp ở ĐBSCL, hầu hết các giải cao là các máy do các hộ cơ khí nhỏ ở đồng bằng song Cửu Long sản xuất, do tính thích nghi của thiết bị.
- Song trên thị trường có sự cạnh tranh không cân sức về giá của các máy gặt đập liên hợp sản xuất từ Trung Quốc và vì kỹ thuật của các máy sản xuất từ Nhật Bản.
- Máy gặt đập liên hợp do cơ khí An Giang sản xuất có nhiều mặt tiến bộ, song sản lượng quá nhỏ, công nghệ chấp vá nên chưa có tác dụng lớn đối với việc thu hoạch lúa bằng máy.
- Hệ thống cơ khí của nhà nước có tham gia, tác dụng không đáng kể. Không thấy máy gặt đập liên hợp của Công Ty Chế Tạo Máy Nông Nghiệp của nhà nước trên Đồng Bằng Sông Cửu Long. Máy gặt đập liên hợp Việt Nam không được hổ trợ, đã thua ngay trên ruộng nhà.
Về kỹ thuật canh tác:
- Kỹ thuật canh tác theo chuẩn GAP đã được triển khai.
Về giống:
- Công tác giống đã được thực hiện tốt.
- Nói tóm lại về mặt kỹ thuật từ a) đến g) của nghị định 48/NQ-CP Việt Nam có đũ điều kiện về năng lực tổ chức thực hiện.
2.2.2 Vấn đề vốn:- Thiệt hại sau thu hoạch lúa hằng năm tính toán ở mức thấp nhất là trên 21.000 tỷ đồng. Thiệt hại này lớn hơn tổng số thiệt hại do các cơn bảo cộng lại, và chia đều cho mỗi đầu người nông dân ở vùng trồng lúa nên ít được quan tâm.
- Giá xăng, giá sữa ngoại, giá thuốc nhập, giá điện thoại di động, giá xe hơi,… được tha hồ tăng sao cho người sản xuất và kinh doanh có lợi.
- Duy chỉ có giá lúa khi có chuyển biến tăng 5% - 10%, các nhà quản lý kinh tế vĩ mô, các nhà kinh doanh xuất khẩu lúa gạo tìm cách kìm giá. Viện các lý do là an ninh lương thực, chống lạm phát. Nhưng tuyệt nhiên không có một chính sách nào đi kèm, chia sẽ gánh nặng cho người nông dân.
- Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là đưa máy nông nghiệp vào đồng ruộng, nhà máy chế biến để làm thẳng lưng người phụ nữ nông thôn, cho bà con nông dân đở vất vả trên đồng và làm tăng giá trị nông sản .
3. Trách nhiệm này thuộc về ai?- Về tổ chức thực hiện Nghị Quyết. Chính phủ có giao cho 7 bộ ngành trung ương và UBND các tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện. Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn là thường trực theo dõi, tổng hợp tình hình tham mưu giúp Chính phủ, định kỳ 6 tháng báo cáo Chính phủ về việc thực hiện Nghị Định này. Sáu tháng mới báo cáo một lần làm sao giải quyết được tồn thất lúa kiệp thời vào mùa vụ thu họach lúa?
- Có còn hơn không.
- Khi đề xuất giải pháp giảm tổn thất sau thu hoạch lúa và hiện đại hóa ngành xay xát lúa gạo ở một địa phương. Người chịu trách nhiệm về vấn đề này cho biết:
- Tỉnh không có ngân sách để đầu tư giải quyết vấn đề tổn thất sau thu hoạch.
- Đây là trách nhiệm của các doanh nghiệp.
- Tồn trữ lúa phải đầu tư vào máy sấy, kho chứa lúa, vốn lưu động để trữ lúa, vòng quay vốn chậm, rủi ro cao nên các công ty kinh doanh lúa gạo thường tránh khâu này.
- Tối đa hóa lợi nhuận, tránh rủi ro trong kinh doanh, bảo tồn, phát triển đồng vốn là mục tiêu cục bộ của từng Công ty kinh doanh.
- Giải pháp là mua gạo ẩm độ cao, giảm giá đầu vào để bảo hiểm rủi ro là giải pháp chung cho nhà xuất khẩu và Công ty cung ứng gạo xuất khẩu.
- Quy trình chế biến ngược, thu mua và chế biến gạo ẩm độ cao với giá thấp, an toàn cho nhà kinh doanh. Nông dân lãnh đủ thiệt hại trong và sau thu hoạch.
- Tổng thiệt hại trong và sau thu hoạch lúa hàng năm khoảng 22,000 tỷ đồng. Với giá trị này có thể xây dựng 200 cụm sấy tồn trữ lúa khô xay xát gạo có công suất 150000 tấn năm. Đủ sức sấy tồn trữ và xay xát theo công nghệ hiện đại 30 triệu tấn lúa.
- 22.000 tỷ đồng để giải quyết căn bản vấn đề tổn thất sau thu hoạch lúa không phải là nguồn vốn lớn đối với quốc gia xuất khẩu gạo như Việt Nam.
- Bảo hiểm cho 37 triệu tấn lúa, thành quả lao động của 65 triệu nông dân sống ở nông thôn là việc đáng làm và cần phải làm ngay.
- Đất nước đã có đủ năng lực giải quyết nhanh chóng và triệt để vấn đề tổn thất và thiệt hại trong và sau thu hoạch lúa.
- Một điều duy nhất còn thiếu, đó là trách nhiệm.